Trang

5 tháng 5, 2014

Ông Trần Công Trục: 'Trung Quốc đang có bước đi nguy hiểm'


Việc Trung Quốc đưa giàn khoan HD-981 đến vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam là bước đi nguy hiểm, tạo cạm bẫy với các nước có cùng tranh chấp, ông Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ nhận định.
Dàn khoan HD-981 của Trung Quốc trên Biển Đông, tháng 5.2012 - Ảnh: Xinhua
Giàn khoan HD-981 của Trung Quốc trên biển Đông, tháng 5/2012. Ảnh: Xinhua.
- Ông đánh giá thế nào trước việc Trung Quốc đưa giàn khoan tới vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam?
- Đây là một bước đi vô cùng nguy hiểm, vi phạm đến lợi ích kinh tế, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa mà Công ước Luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc (Công ước) đã quy định.
Cách đây mấy năm, Trung Quốc đã rùm beng công bố và đầu tư hàng tỷ USD để sản xuất giàn khoan này. Hạ đặt giàn khoan khổng lồ khác hoàn toàn những hành động trên giấy tờ, phát ngôn hoặc gây hấn như cắt cáp tàu thăm dò dầu khí. Đây là hành động cốt lõi để Trung Quốc thực hiện chiến lược độc chiếm biển Đông, tranh giành lợi ích sống còn của các nước trong khu vực về kinh tế, dầu khí.
Đưa giàn khoan ra Biển Đông không chỉ là một bước mới trong việc hiện thực hóa yêu sách vô lý đường lưỡi bò của Trung Quốc mà một lần nữa khẳng định lập trường chủ quyền của họ với quần đảo mà nước này gọi là Tây Sa. Khi đó, Trung Quốc sẽ tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với tư cách như một quốc gia quần đảo để tạo ra vùng chồng lấn với các vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam. Đây là những điều cực kỳ nguy hiểm.
Vị trí được chọn để hạ giàn khoan cho thấy Trung Quốc đã tính toán rất kỹ. Giàn khoan HD 981 được hạ cách đảo Lý Sơn 119 hải lý, cách ranh giới ngoài của vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam là 81 hải lý. Chiểu theo quy định của Công ước, rõ ràng giàn khoan của Trung Quốc nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam theo đúng quy định của Công ước.
truc.jpg
Ông Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ.
- Vì sao Trung Quốc lại chọn thời điểm này để công bố việc đưa giàn khoan vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, thưa ông?
- Có người nói hành động này của Trung Quốc là đột biến, nhưng tôi cho rằng không phải như vậy. Đó là kết quả logic của một chuỗi các hoạt động của Trung Quốc như xua tàu đánh cá tràn xuống biển Đông, tổ chức tuần tra, mở rộng hoạt động của lực lượng hải giám, công bố đấu thầu 9 lô dầu khí, tiến hành các hoạt động có tính chất dùng sức mạnh để đe dọa...
Lúc này, cả thế giới đang dồn sự chú ý vào Ukraine, những căng thẳng Nga - Mỹ.  Khả năng can thiệp của Mỹ là thấp, mặc dù Tổng thống Obama vừa đi thăm một số nước châu Á và có tuyên bố mạnh mẽ. Vì thế, Trung Quốc lợi dụng thời điểm này để tránh búa rìu dư luận.
Dư luận trong nước và quốc tế thời gian qua có cảm tưởng tình hình Biển Đông êm dịu hơn, Trung Quốc không làm gì mạnh hơn và có vẻ muốn cùng các nước đàm phán.
Nhưng theo tôi, cảm giác đó là do truyền thông tạo nên. Chúng ta muốn giữ hòa khí, nhằm vận động Trung Quốc ngồi vào bàn đàm phán với mong muốn giải quyết êm thấm, tránh căng thẳng không cần thiết. Chúng ta có những kiềm chế trong xử lý mối quan hệ này với Trung Quốc trong khi họ lại có những toan tính chặt chẽ và hành động cụ thể. 
- Từng là người làm công tác biên giới biển đảo, ông đánh giá thế nào về phản ứng của Việt Nam?
- Chúng ta đã có những phản đối, lên tiếng về mặt ngoại giao. Tuy nhiên, phản ứng như vậy đã đủ chưa và phản ứng đến mức độ nào còn là vấn đề mà dư luận chưa chia sẻ được do tính phức tạp và tế nhị trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc.
Theo tôi, đây là vấn đề lợi ích quốc gia, chủ quyền đất nước, lợi ích chính đáng của mình được luật pháp quốc tế thừa nhận, chúng ta phải bảo vệ, cần có những biện pháp cụ thể, thực tế và hiệu quả.
- Chẳng hạn như biện pháp gì?
- Tôi nghĩ rằng cần thiết phải có những phản ứng ngoại giao mạnh mẽ hơn nữa, bằng Công hàm chính thức gửi cho phía Trung Quốc, cũng như gửi lưu chiểu cho các tổ chức quốc tế. Không thể dừng lại ở tuyên bố của người phát ngôn Bộ Ngoại giao. Công hàm có những lời lẽ phân tích đầy đủ, chính xác, tránh những câu có tính nguyên tắc, chung chung, vì sẽ khó thuyết phục.
Về mặt dư luận, chúng ta cần tăng cường truyền thông chính xác, nói rõ địa điểm Trung Quốc hạ đặt giàn khoan ở đâu để mọi người hiểu rõ. Nếu chúng ta không phân biệt rõ ràng khu vực này có vị trí như thế nào trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam thì sẽ mắc vào cái bẫy, thừa nhận yêu sách vô lý của họ, biến vùng không có tranh chấp thành có tranh chấp như ý đồ của họ.
- Theo ông, bước tiếp theo của Trung Quốc sẽ là gì?
- Logic của vấn đề là Trung Quốc không bao giờ từ bỏ tham vọng, muốn độc chiếm Biển Đông, kiểm soát khống chế toàn bộ khu vực này giống như là khu vực thuộc lợi ích cốt lõi. Chiến lược đó không thay đổi, thậm chí họ làm mạnh mẽ hơn nhiều.
Nếu dùng biện pháp quân sự chắc chắn sẽ vấp phải dư luận và thế giới sẽ không để điều đó xảy ra. Trung Quốc thực hiện bước đi nguy hiểm hơn là dùng biện pháp dân sự và kinh tế. Họ chọn vị trí, tính toán hình thức hoạt động khiến dư luận ít phản ứng hơn. Rõ ràng đây là những vi phạm lợi ích sống còn mà chúng ta có lợi ích kinh tế chính đáng ở đó.
gian-khoan-5529-1399257886-9776-13992745
Vị trí giàn khoan (chấm đen vuông) mà Trung Quốc đặt trái phép trên vùng biển Việt Nam. Ảnh: PVN
- Ông đánh giá thế nào về khả năng Việt Nam kiện Trung Quốc như Philippines đã làm?
- Chúng ta hoàn toàn có thể đưa ra tòa án Trọng tài quốc tế về Luật Biển của Liên Hợp Quốc vì Trung Quốc giải thích, áp dụng sai về Công ước, thực hiện các hành động vi phạm trên thực tế.
Hiện Tòa án đang thụ lý đơn của Philippines được dư luận đồng tình, ủng hộ.
Nếu so sánh với bãi cạn Scarborough của Philippines thì Việt Nam có điểm chung là Trung Quốc giải thích và áp dụng sai Công ước để đưa ra những yêu sách, những hoạt động thực tế, tranh chấp thực tế hoàn toàn sai.
Chúng ta có quyền kiện với tư cách quốc gia thành viên của Công ước, nếu như nước khác vi phạm do giải thích và áp dụng sai Công ước.
Ngày 3/5, Cục Hải sự Trung Quốc ra thông báo cho biết giàn khoan có tên Hải Dương 981 (HD-981) sẽ tiến hành khoan và tác nghiệp tại vị trí có tọa độ 15o29’58” vĩ Bắc – 111o12’06” kinh Đông từ ngày 02/5 đến 15/8. 
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình khẳng định vị trí tọa độ hoạt động của giàn khoan HD-981 nêu trên nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, cách bờ biển Việt Nam khoảng 120 hải lý.
HD 981 thuộc sở hữu của CNOOC, là loại giàn khoan nửa chìm nửa nổi, có chiều dài 114 m, chiều rộng 89 m và chiều cao 117 m, độ sâu hoạt động tối đa là 3.000 m và độ khoan sâu tối đa là 10.000 m.
Đây là thế hệ giàn khoan kết hợp các thiết kế, công nghệ và thiết bị rất hiện đại. Giàn khoan được trang bị 8 máy phát điện 44.000 kilowatt, động cơ đẩy với sức mạnh mỗi động cơ tương đương 5 đầu máy xe lửa. Các động cơ đẩy sẽ chống lại tác động từ gió, sóng và dòng chảy của đại dương.
HD 981 được đưa vào Biển Đông lần đầu tiên tháng 5/2012, vị trí ở phía nam Hong Kong.
Việt Anh

'Việt Nam sẽ có phương án đối phó' với TQ?


Giàn khoan 981 do Tổng công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc vận hành
Trung Quốc vừa loan báo việc chuyển giàn khoan Hải Dương 981 tới vùng biển gần đảo Lý Sơn của Việt Nam.
Vị trí tác nghiệp của giàn khoan nước sâu khổng lồ này cách đảo Lý Sơn 119 hải lý, nằm hoàn toàn trong vùng kinh tế đặc quyền (EEZ) của Việt Nam.
Trước hành động này, nhà nghiên cứu chủ quyền Biển Đông Hoàng Việt nói với BBC, chính phủ Việt Nam 'chắc chắn sẽ có các phương án' để đối phó.
Nhà nghiên cứu Hoàng Việt: Thực ra việc Trung Quốc kéo giàn khoan tới đây là điều không chỉ tôi mà một số người khác cũng đã đề cập, chứ không phải là không nghĩ tới, cho dù không biết sẽ vào thời điểm nào. Thế nhưng thời điểm Trung Quốc chọn để làm công việc này, là khi Việt Nam đang say sưa nghỉ lễ và chào đón chiến thắng Điện Biên Phủ thì cũng hơi bất ngờ.
Năm 2011, Trung Quốc mới chỉ tuyên bố sẽ mang giàn khoan xuống Biển Đông và lúc đó mới chỉ tới gần Hong Kong. Nhưng lần này là vào tận trong vùng kinh tế đặc quyền của Việt Nam.
BBC: Thưa ông, liệu có phỏng đoán nào về lý do khiến Trung Quốc thực hiện việc đưa giàn khoan vào lúc này?
Nhà nghiên cứu Hoàng Việt: Có nhiều suy đoán, thí dụ như đây có thể là hành động đáp trả lại chuyến đi châu Á vừa rồi của ông [Tổng thống Hoa Kỳ] Obama, hay là tín hiệu phản ứng trước chính sách chuyển dịch sang châu Á của chính phủ Mỹ.
Hướng suy đoán thứ hai là bên trong nội bộ Trung Quốc đang có nhiều vấn đề, thí dụ như mới nhất là các cuộc 'khủng bố' Tân Cương, nên chính phủ nước này đang muốn hướng dư luận về phía khác.
Chúng ta cũng đừng quên rằng tham vọng của Trung Quốc tại các vùng biển rất là mạnh mẽ, họ không dễ từ bỏ chúng.
Về phía Việt Nam, thì cũng có thể gần đây do Việt Nam đã cho hợp đồng khai thác một số lô dầu, và tôi cũng nghe thông tin rằng Tổng công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc (CNOOC) cũng muốn nhảy vào nhưng không được Việt Nam cấp phép. Tất nhiên cần phải kiểm chứng thêm, nhưng có thể đây là một trong các nguyên nhân trực tiếp chăng?
BBC: Thưa ông từ 2013, căng thẳng chủ quyền Việt-Trung được cho là có dịu đi. Thế nhưng bây giờ với những diễn tiến mới này, ông có cho là sẽ có đợt căng thẳng mới giữa hai nước không ạ?
Nhà nghiên cứu Hoàng Việt: Tôi nghĩ chắc chắn là có. Trung Quốc sẽ không bao giờ ngơi nghỉ tham vọng của mình đối với các vùng biển của Việt Nam.
Dường như Trung Quốc có nhiều mặt trận và họ xoay chuyển các mặt trận khác nhau. Lúc thì hướng về Philippines, lúc thì Nhật Bản, và nay là hướng về Việt Nam. Nay thì giàn khoan của Trung Quốc đã có mặt hoàn toàn ở trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, cách đảo Lý Sơn có 120 hải lý.
Phía Việt Nam bằng mọi cách sẽ phải có phản ứng và ngăn chặn.
Giàn khoan của Trung Quốc hiện đang trôi lập lờ, và để cố định giàn khoan cho nó hoạt động trên vùng biển đó thì phải mất 5-7 ngày. Và trong giai đoạn đó Việt Nam sẽ phải bằng mọi cách ngăn không cho Trung Quốc đặt giàn khoan trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam vì nếu Trung Quốc đạt được thì điều này sẽ trở thành tiền lệ và Trung Quốc sẽ tiếp tục lấn tới.
Vấn đề là Trung Quốc sẽ phản ứng thế nào? Nếu Trung Quốc cứ kiên quyết đặt giàn khoan vào thì chắc chắn sẽ có xung đột.

Vị trí được nói nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam
BBC: Hiện ta mới thấy Bộ Ngoại giao và Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam lên tiếng phản đối. Nếu không có hiệu quả, thì bước tiếp theo sẽ là gì ạ?
Nhà nghiên cứu Hoàng Việt: Chắc chắn là Việt Nam sẽ phải phản ứng bằng nhiều phương án. Trước mắt thì là phản đối ngoại giao, kêu gọi tiếng nói của dư luận.
Tuy nhiên nếu Trung Quốc vẫn tiếp tục thì theo phỏng đoán của cá nhân tôi, Việt Nam sẽ phải có các phương án khác, trong đó có phương án như đã từng làm khi Trung Quốc ký hợp đồng với công ty Creston hoạt động ở bãi Tư Chính, các tàu hải quân của Việt Nam cũng đã ra bao vây và kêu gọi, mặc dù giữ hòa bình và không nổ súng.
Tôi nghĩ trong trường hợp này lực lượng hải quân của Việt Nam cũng cần sẵn sàng để làm nhiệm vụ tương tự như vậy.
BBC: Có ý kiến cho rằng những sự kiện như thế này sẽ khiến Việt Nam trở nên mạnh mẽ hơn trong ủng hộ vụ kiện của Philippines đối với Trung Quốc tại Tòa Trọng tài Quốc tế. Ông nghí thế nào về đánh giá này ạ?
Nhà nghiên cứu Hoàng Việt: Trong trường hợp này cần phải khẳng định rằng Trung Quốc đã vi phạm luật pháp quốc tế một cách rõ ràng. Họ cho rằng vị trí [giàn khoan] thuộc chủ quyền của Trung Quốc, nhưng là chủ quyền nào?
Thứ nhất, cấu trúc địa lý mà Việt Nam gọi là Tri Tôn không phải đảo mà chỉ là một bãi ngầm thôi và không có vùng đặc quyền kinh tế đi kèm.
Thứ hai, dù thế nào đi chăng nữa Việt Nam cũng khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa. Vì vậy Việt Nam có thể khẳng định chủ quyền đầy đủ và rõ ràng tại đây.
Nếu là vùng biển tranh chấp Trung Quốc cũng không thể có hành động đơn phương như kéo giàn khoan ra như vậy.
Nói về vụ kiện của Philippines thì chính phủ Việt Nam vẫn ủng hộ lập trường giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, có thể thông quan tòa án quốc tế. Còn có trực tiếp tham gia vụ kiện cùng Philippines hay không thì đây là vấn đề còn phải tranh luận.

Thư phản đối của các nhà khoa học quốc tế gửi Trường ĐHSP Hà Nội và Bộ Giáo dục (vụ Nhã Thuyên)

PSG, TS Nguyễn Văn Minh
Hiệu trưởng
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
136 Xuân Thủy, Quận Cầu Giấy
Hà Nội, Việt Nam

Ngày  02 Tháng 5, 2014
Thưa Ông Hiệu trưởng,
Chúng tôi viết thư này để bày tỏ mối quan tâm đối với bà Đỗ Thị Thoan (bút danh Nhã Thuyên), người đã được trao bằng thạc sĩ từ trường đại học của ông trong năm 2010, sau khi nhận được điểm tối đa từ Hội đồng đánh giá .
Rõ ràng là luận văn thạc sĩ của bà Thoan sau đó lại được xem xét bởi một hội đồng khác và trên cơ sở đó bà Thoan đã bị thu hồi văn bằng của mình theo các Quyết định số 667/QD-DHSPHN và Quyết định số 708/QD-DHSPHN, cả hai quyết định này đều được ban hành vào tháng 3 năm 2014. Những hành động này xảy ra mà không có bất kỳ thông báo nào cho bà Thoan và người hướng dẫn về việc đánh giá lại luận văn; cả hai người này đều không được cung cấp chứng cứ về những sai sót nghiêm trọng về mặt học thuật của luận văn. Nhà trường đã lờ đi yêu cầu của bà Thoan và người hướng dẫn về việc tạo cho họ một cơ hội để giải thích và bày tỏ sự không đồng ý.
Chúng tôi tin tưởng mạnh mẽ rằng những hành động nói trên sẽ làm tổn hại nghiêm trọng uy tín Nhà trường với tư cách một tổ chức học thuật. Thu hồi một bằng thạc sỹ đã được cấp trước đó mà không tuân theo các nguyên tắc cơ bản về quá trình thu hồi bằng cấp chỉ có thể có nghĩa là các quyết định trên xuất phát từ chính trị chứ không phải vì các lý do liên quan đến việc quản lý bằng cấp.
Chúng tôi ủng hộ 166 học giả tại Việt Nam và 100 học giả Việt kiều là những người đã ký tên trên các bức thư ngỏ gửi đến trường Đại học Sư phạm Hà Nội để yêu cầu rút lại quyết định thu hồi bằng thạc sỹ của bà Thoan. Chúng tôi đề nghị Ông đáp ứng yêu cầu của họ để bảo vệ tự do học thuật và lẽ công bằng. Chúng tôi cũng mong Ông khôi phục lại vị trí công việc cho PGS Nguyễn Thị Bình, người dường như đã bị trừng phạt vì đã hướng dẫn luận văn của bà Thoan, và đã không hề có bất kỳ cáo buộc nào về các hành vi sai trái.
 Trân trọng,
 Ký tên:
 Joel L. Lebowitz
Paul H. Plotz
Walter Reich
Eugene M. Chudnovsky
Alexander Greer
Đồng chủ tịch, “Ủy ban các nhà khoa học có quan tâm”
Đồng kính gửi:
PGS, TS Phạm Vũ Luận,
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
49 Đại Cồ Việt
Hà Nội, Việt Nam
Chú thích của Vũ Thị Phương Anh (người dịch):
Bản gốc ở đây, có vài lỗi nhỏ (vd: nhầm ĐHSP Hà Nội với ĐH Giáo dục thuộc ĐHQG Hà Nội) vì tổ chức CCS không nắm rõ hệ thống của VN:http://concernedscientists.org/2014/05/revocation-of-degree-four-years-later-leads-to-protest-by-vietnamese-academics/
Bản dịch tiếng Việt do tôi thực hiện (đã sửa lại vài chi tiết chưa chính xác) để cung cấp thông tin đến cho cộng đồng học giả trong nước. Và mong có ai đó làm việc trong hệ thống đọc kỹ và có ứng xử phù hợp, để không làm xấu hình ảnh của giới nghiên cứu và giáo dục VN trước cộng đồng quốc tế.

4 tháng 5, 2014

VnIndex giảm hơn 4 điểm

Nhiều cổ phiếu đang giảm sàn với dư bán sàn lớn như PVA, SNG, PSG, NVC, GGG…

Thị trường diễn biến không mấy khả quan sau kỳ nghỉ lễ dài khi VN30 giảm sâu gần 8,5 điểm. Bluechips đã kéo thị trường chung xuống dù số mã đứng giá khá nhiều. Những cổ phiếu đáng chú ý là:
-SBS vẫn đạt dư mua trần hơn 20 triệu cổ phiếu. Việc đua trần mua cổ phiếu này không quá bất ngờ khi công ty chứng khoán này tái cơ cấu khá thành công sau 1 năm rời sàn niêm yết. Sự trở lại với giá tham chiếu 900 đồng hồi cuối tháng 4 khiến cổ phiếu này hấp dẫn nhà đầu tư. Tuy nhiên, hiện tượng tiết cung vẫn xảy ra nên thanh khoản cổ phiếu SBS rất thấp.
-Bắt đầu có nhiều cổ phiếu bán bằng mọi giá. Không ngoại trừ là việc "margin call" đã xảy ra ở nhiều cổ phiếu khi việc bán sàn được đặt lệnh khá nhiều. Những cổ phiếu hiện đang giảm sàn với dư bán sàn khá lớn phải kể đến là: HLA (Hữu Liên Á Châu); PSG, PVA, QCC, SNG....
............
Mở cửa phiên giao dịch sáng nay, có lúc 2 sàn đã tăng điểm nhưng đà tăng không giữ được lâu khi hầu hết bluechips giảm điểm.
VN30 sáng nay chỉ có 3 mã tăng trong khi có đến 16 mã giảm điểm. Chỉ số này giảm trên dưới 4 điểm kéo chỉ số VNIndex giảm nhẹ. MSN giảm 1.000 đồng/cp; FPTPVDVIC giảm 500 đồng/cp; GMD giảm 600 đồng…
Trên HNX, KLF dẫn đầu thanh khoản và hiện đi ngược xu thế chung của thị trường, tăng 200 đồng/cp lên 13.800 đồng/cp. PVC tăng mạnh 400 đồng sau thông tin KQKD khá khả quan quý 1.
Nhiều cổ phiếu đang giảm sàn với dư bán sàn lớn như PVASNGPSG,NVCGGG
Thanh Hiên
Theo Trí Thức Trẻ

Tính đại chúng đang thụt lùi


Theo quy định hiện nay, công ty đại chúng phải có 100 cổ đông trở lên, nhưng tại nhiều ĐHCĐ của các công ty niêm yết (là công ty đại chúng) số lượng cổ đông hiện diện thấp hơn con số này rất nhiều.

Chỉ trong 2 ngày 25 và 26-4 đã có hàng trăm đại hội cổ đông (ĐHCĐ) của các công ty đại chúng diễn ra trên cả nước, đây cũng là 2 ngày cao điểm kết thúc mùa ĐHCĐ của năm 2014. ĐHCĐ là dịp tốt nhất để các doanh nghiệp (DN) chứng tỏ hiệu quả của mô hình công ty đại chúng, nhưng trong mùa ĐHCĐ năm nay một số DN lại không muốn làm điều này.
Cổ đông nản
Theo quy định hiện nay, công ty đại chúng phải có 100 cổ đông trở lên, nhưng tại nhiều ĐHCĐ của các công ty niêm yết (là công ty đại chúng) số lượng cổ đông hiện diện thấp hơn con số này rất nhiều. Điều đáng nói là trong một DN luôn luôn có sẵn một lực lượng cổ đông rất đông đảo, đó là cán bộ công nhân viên.
Có công ty những năm đầu mới niêm yết còn chủ động kêu gọi cán bộ công nhân viên, người nhà tham dự ĐHCĐ cho đông, nhưng càng về sau thấy không cần nên thôi khỏi thực hiện nữa. Một cổ đông bên ngoài đến tham dự đại hội chỉ có hai ba chục người buồn như thế nào, như vậy cổ đông chẳng còn muốn quan tâm đến DN.
Một cổ đông tham dự ĐHCĐ của Pomina (POM) diễn ra vào sáng 26-4 đã ngán ngẩm thốt lên tính đại chúng của công ty này ngày càng thấp. Chưa cần đến dự đại hội của POM cũng phần nào nhìn ra được vấn đề này, vì CP của công ty đang niêm yết có thanh khoản vào loại thấp, mỗi phiên chỉ khoảng vài trăm đến vài ngàn CP được giao dịch, lâu lâu mới có phiên vài chục ngàn CP khớp lệnh.
Điều lạ lùng nhất là POM đã niêm yết từ năm 2010, là một DN lớn, có thực lực, nhưng sự nhàm chán trong hoạt động quan hệ NĐT và ĐHCĐ vẫn đi ngược với xu hướng của thị trường. Có thể ví von, NĐT quan tâm đến Hòa Phát (HPG), một đối thủ lớn của POM bao nhiêu lại chán POM bấy nhiêu.
Tại ĐHCĐ của Bảo hiểm Pjico (PGI), trả lời về vấn đề thị giá của CP trên sàn không được như kỳ vọng, lãnh đạo công ty cho biết nguyên nhân một phần vì… không ai muốn bán ra. Câu trả lời khiến NĐT đặt vấn đề phải chăng vị này không hiểu biết gì về chứng khoán hoặc rất thiếu trách nhiệm. Trường hợp của Licogi 16 (LCG), CP có thanh khoản, ĐHCĐ vẫn có nhiều NĐT quan tâm, nhìn có vẻ vẫn “đại chúng”, nhưng thực tế hoàn toàn trái ngược. Việc LCG đã thay đổi nhiều tờ trình trước ĐHCĐ cho thấy cách làm có phần duy ý chí của ban lãnh đạo mà không quan tâm đến quyền lợi của nhiều cổ đông bên ngoài.
Hệ quả NĐT chủ yếu quan tâm đến CP có giá bao nhiêu, biến động thế nào, còn vận mệnh của DN ra sao mặc kệ, miễn đừng tệ quá là được. Còn ban lãnh đạo có vẻ như cũng không muốn huy động các nguồn lực từ cổ đông, lợi thế vô cùng quan trọng của công ty đại chúng để cùng nhau đưa DN phát triển.
Nhà báo - người quan sát bị siết
Góp phần chuyển tải những thông tin về ĐHCĐ của DN và cũng đóng vai “người quan sát” tính đại chúng của DN khá tốt chính là báo giới. Gần như một công thức, hễ DN nào có các sự kiện hot theo hướng không tích cực, lập tức các phóng viên bị “siết” tham dự và động thái này lập tức phản tác dụng.
Cứ nhìn các trang tin điện tử hiện nay sẽ thấy, ĐHCĐ của các DN được tường thuật trực tiếp, mà chỉ cần một trang có thông tin trang khác cũng có thể tận dụng khai thác. Với những DN những năm trước còn niềm nở hoặc tương đối thoải mái trong việc tiếp đón phóng viên đến tham dự ĐHCĐ, thì việc siết lại năm nay có thể xuất hiện câu hỏi rằng DN có chuyện gì lại ngại báo giới? Hoặc minh bạch có chi mà ngại?
Theo sự phát triển của TTCK, NĐT tham gia ngày một đông đảo, nên tất yếu cơ cấu cổ đông của các DN cũng đa dạng, thậm chí phức tạp hơn và nếu không có cách ứng xử hợp lý phần thiệt sẽ thuộc về DN. Thí dụ, một đối thủ của DN chỉ cần bỏ tiền mua 10 hay 100 CP là có thể tham dự ĐHCĐ và yêu cầu lãnh đạo cung cấp các thông tin liên quan đến hoạt động kinh doanh.
Nếu DN cởi mở quá mức có thể dẫn đến việc lộ những bí mật kinh doanh, nhưng nếu thoái thác sẽ mang tiếng thiếu minh bạch. Từ chỗ thiếu minh bạch, có thể ngay trong đại hội các NĐT muốn tìm hiểu DN thực sự để cân nhắc khả năng hợp tác sâu hơn sẽ không tin tưởng. Với các DN đầu ngành, vị thế lớn giải quyết không khó, nhưng với các DN có quy mô cỡ vừa trở xuống đây là một thách thức thật sự.
Cơ cấu cổ đông đa dạng, nên các yêu cầu đặt ra cho ban lãnh đạo cũng ngày một khắt khe hơn. Khi NĐT ngày một trưởng thành và tinh ý hơn, chỉ cần qua vài câu hỏi đáp có thể biết được những người đứng đầu DN như thế nào.
Một DN niêm yết từ 5 năm trở lên, nếu không có chiến lược rõ ràng và hành động không nhất quán, việc giải đáp khúc mắc của cổ đông cũng như nói về các định hướng tương lai sẽ khó lòng suôn sẻ. Hoặc lãnh đạo của các công ty nhỏ, sau vài câu hỏi của cổ đông đã nổi nóng NĐT cũng nhìn ra được khả năng hợp tác với các cổ đông, các NĐT tổ chức rất thấp. Chưa kể, do báo chí thường xuyên cập nhật, nên chỉ cần năm ngoái nói khác, năm nay nói khác lập tức lãnh đạo DN sẽ bị coi là “chém gió”.
Tính đại chúng đang thụt lùi (1)
ĐHCĐ CTCP Sông Đà 505 năm 2014.
Ngay khi trước ĐHCĐ cũng đã có những DN hành xử theo kiểu bất cần. Một công ty làm trong ngành xây dựng ở miền Trung thậm chí không thèm gửithư mời hay liên lạc với cổ đông. Hay như việc tiến hành hoãn ĐHCĐ, dời ngày không công bố lý do chính đáng cũng khiến nhiều người phải đau đầu tự hỏi không biết DN có chuyện gì hay coi thường cổ đông.
Hiện nay có 2 dạng đại hội “đi cũng như không đi” nếu xét về mặt thông tin. Dạng thứ nhất là của những công ty có tính minh bạch cao như Dược Hậu Giang, Nhựa Bình Minh, Vinamilk, REE, SMC… Thông tin trước, trong và sau đại hội đều được chuyển tải tới các cổ đông rất rõ ràng. Dạng thứ hai dù có đi hay không cổ đông cũng không khai thác được thông tin gì nhiều khi lãnh đạo cứ thỏa sức nói theo lãnh đạo, còn cổ đông có hỏi hay không thì cứ tìm cách tránh né.
Mong rằng dạng thứ nhất sẽ ngày một nhiều hơn, còn dạng thứ 2 ít đi. Một số DN thời gian qua vẫn cứ nói đến vấn đề văn hóa DN, nhưng một DN có văn hóa cũng phải đối xử với cổ đông có văn hóa, đó là điều tất yếu. Chẳng lẽ sau văn hóa DN, lại còn có cả văn hóa ứng xử với cổ đông! Nếu cứ mãi loay hoay như vậy DN sẽ khó lòng phát triển, tính đại chúng cứ mãi thụt lùi.
Theo MINH PHƯƠNG
Sài Gòn Đầu tư tài chính

Thống đốc Bình được mấy phần của "Nửa Giải Nobel"?

Thống đốc Bình được mấy phần của "Nửa Giải Nobel"?

Còn nhớ, cuối năm 2012, Thống đốc Bình đã tự nhận điểm 8 về công tác điều hành và xin được nhận "Nửa Giải Nobel" nếu ông giải quyết được một trong những vấn đề tăng trưởng - lạm phát - tỷ giá.


 
Câu nói vui của ông Bình khi ấy cho thấy, nền kinh tế khó có thể thực hiện đồng thời cả 3 mục tiêu: duy trì tăng trưởng cao, níu lạm phát xuống thấp và giữ giá tiền đồng, nếu không nói là "bất khả thi".
Bài toán tăng tín dụng
Hơn một năm rưỡi trôi qua, các đại biểu Quốc hội đã thôi không chất vấn Thống đốc Bình về cái đầu bài quá khó. Nhưng những vấn đề "nóng" như chống "đôla hóa", "vàng hóa" khi Nhà nước nắm độc quyền vàng, khơi thông tín dụng cho nền kinh tế, xử lý nợ xấu, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng với "lùng nhùng" sở hữu chéo, lợi ích nhóm…, thì vẫn được đặt ra?
Trong đó, tín dụng của hệ thống ngân hàng tăng trưởng ì ạch, dòng vốn tắc nghẽn đang là bài toán khó với nhà điều hành. Giờ đây, ngân hàng đang phải "gõ cửa" DN chào mời vay vốn, hay cạnh tranh để "được" tài trợ dự án, giành giật khách hàng tốt… Thậm chí, một vài ngân hàng chấp nhận cho vay thấp hơn cả mức lãi suất huy động, chỉ từ 5-5,5%/năm để "câu" khách mà cũng còn chật vật.
Tại Hội nghị Thủ tướng Chính phủ với doanh nghiệp ngày 28/4, đại diện cho khối doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) - chiếm tới 96% số doanh nghiệp Việt Nam- than thở rằng họ vẫn khó tiếp cận vốn ngân hàng với những điều kiện vay vốn quá khắt khe.
Vẫn với sự tự tin vốn có, ông Bình trả lời về những nguyên nhân khiến DNVVN khó vay được vốn ngân hàng. Đó là do các công cụ hỗ trợ DNVVN chưa phát huy hiệu quả trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, là lãi suất đã giảm nhưng vẫn còn cao hơn so với điều kiện của DN. Đặc biệt, là năng lực tài chính, quản trị của DN còn hạn chế, dẫn tới rủi ro nợ xấu lớn khiến ngân hàng phải thận trọng, siết chặt điều kiện cho vay…
Do đó, ngoài nguồn tín dụng ngân hàng, theo ông Bình, cần phải tăng hiệu quả các quỹ hỗ trợ DNVVN, quỹ quản lý tiết kiệm DN, đẩy mạnh liên kết các khâu trong quá trình sản xuất, kinh doanh để tiết giảm chi phí vốn, tăng hiệu quả.
Thống đốc Bình được mấy phần của
"Về lãi suất giảm mà vẫn cao, ngân hàng phải hoạt động theo nguyên tắc thị trường nên cần chính sách hỗ trợ khác cho DN. Chẳng hạn, chúng tôi đã có nhiều chương trình thí điểm kết nối trực tiếp DN và ngân hàng, địa phương hỗ trợ 2-3% lãi suất thì DN lại hoạt động được…"- ông Bình nói, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết tham gia của chính quyền địa phương các cấp để hỗ trợ DN nhanh chóng khôi phục hoạt động, bên cạnh việc ngân hàng tiếp vốn.
Giai đoạn 2010-2011, các DN liên tục kêu ngân hàng siết chặt tín dụng, cho vay với lãi suất cao tới 25-27%/năm không khác nào "tín dụng đen". Nhiều DN khát vốn vẫn phải "cắn răng" vay lãi cao để duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Cần chính sách ổn định
Có thực tế là, những khoản nợ vay ngân hàng, vay lãi ngoài cùng với lợi nhuận kinh doanh khi ấy cũng chỉ phục vụ mục tiêu duy nhất là "đảo nợ" ngân hàng.
Sau thời gian "đu dây" căng thẳng với gánh nặng chi phí lãi vay quá cao, các DN dần "đuối sức", mất cân đối tài chính trầm trọng, "sa lầy" trong núi nợ xấu hàng nghìn tỷ đồng. Dẫn chứng là hàng loạt đại gia ngành thép, bất động sản, xi măng, cà phê, thủy sản… ngày càng kiệt quệ, không trả được nợ ngân hàng. Ở đường cùng, con nợ còn "liều" bán trộm tài sản bảo đảm, lấy tiền trả nợ, dù biết đó là hành vi "lừa đảo, chiếm đoạt tài sản"…
Giữa năm 2012, Thống đốc Bình đã đưa ra một cam kết gây chấn động thị trường, là "sẽ giữ lãi suất cho vay dưới 15%/năm và giữ ổn định trong vòng 1 năm". Sau đó, NHNN yêu cầu các tổ chức tín dụng rà soát, giảm lãi suất nợ vay cũ về dưới mức 15%/năm, hạ lãi suất huy động để kéo giảm lãi suất cho các khoản vay mới. Biện pháp hành chính này khi đó được DN hồ hởi đón nhận, ngân hàng chấp hành.
Tuy nhiên, điều quan trọng là để được vay, DN phải còn khả năng hoạt động, có phương án kinh doanh khả thi, có nguồn thu trả nợ… thì ngân hàng mới cho vay, hưởng ưu đãi lãi suất rẻ. Đó là còn chưa tính tới thực tế: DN có còn tài sản thế chấp để vay mới không, khi mà những tài sản bảo đảm cho nợ cũ có thể đã bị giảm giá trị, thất thoát tài sản, thanh khoản kém hoặc bị tranh chấp? Nên không ít ý kiến đã tỏ ra hoài nghi với thông điệp của NHNN.
Chưa đầy một năm, Thống đốc Bình đã thực hiện vượt cam kết giảm lãi suất về dưới 15%/năm, kéo lãi suất huy động xuống còn 6%/năm, cho vay ra ở mức 8-9%/năm (như giai đoạn 2005-2006). "Đợt giảm lãi suất huy động xuống 6% vừa qua là một quyết định đầy khó khăn" - Thống đốc Bình nói, đồng thời chỉ rõ định hướng điều hành lãi suất theo diễn biến kinh tế vĩ mô, khả năng cân đối nguồn vốn của ngân hàng, lãi suất giảm ở mức hấp dẫn người dân gửi tiền tiết kiệm.
Nhưng với đa phần DN Việt Nam, hoạt động sản xuất, kinh doanh lâu nay vẫn phụ thuộc vào vốn ngân hàng, mà chính sách tín dụng nới lỏng hay thắt chặt, lãi suất cao hay thấp… có ảnh hưởng quyết định tới tăng trưởng, hiệu quả.
"Điều hành chính sách ổn định, không giật cục thì DN mới yên tâm tính toán phương án kinh doanh" là điều ông Bình nói trên diễn đàn, cũng chính là cam kết mà DN mong mỏi trong nhiều nhiệm kỳ thống đốc trước.
Và nếu thực hiện được, thì ông Bình sẽ được bao nhiêu phần của "Nửa Giải Nobel"?
Theo Thu Hằng ( Thời báo kinh doanh)

Chủ thuyết kinh tế nào cho VN?

Bất kỳ cải cách nào đều phải chịu những chi phí nhất định, có khi rất đắt. Nhưng không vì thế mà không làm

Chúng ta đang ôm đồm nhiều quá, mong muốn nhiều quá. Cái gì cũng muốn làm, từ bao cấp cho học sinh đi học, khám chữa bệnh, xóa nhà tranh tre,...trong khi nguồn lực rất có hạn.

Diễn đàn kinh tế mùa xuân 2014 đã chính thức khép lại với những dư âm có thể còn tương đối lâu dài. Suy cho cùng, câu chuyện về thể chế, nói đi nói lại vẫn...chưa xong, đặc biệt khi mà chúng ta vẫn chưa thực sự "dám" có một cuộc cách mạng đúng nghĩa, cải tiến mọi "luật chơi" cho các chủ thể kinh tế.

Một lần nữa, một diễn giả trong diễn đàn đã đặt lại vấn đề về chủ thuyết kinh tế riêng của Việt Nam. Theo PGS.TS.Lê Xuân Bá, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, chúng ta cần phải có nghiên cứu chủ thuyết phát triển kinh tế riêng có của Việt Nam.Đây là vấn đề không còn quá mới mẻ, nhưng không phải vì thế mà nó không được lưu tâm. Năm ngoái, Bộ trưởng Bùi Quang Vinh còn thẳng thắn, mô hình kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa “làm gì có cái thứ đó mà đi tìm”.
Còn nhớ tháng 7/2011, trong kiến nghị của Ủy ban Kinh tế khóa XII được gửi đến Quốc hội khóa XIII, vấn đề chủ thuyết kinh tế đã được đặt ra, với yêu cầu về ổn định kinh tế vĩ mô, tạo tiền đề cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững trong những chu kỳ tiếp theo.
Muốn cải cách thể chế, tạo sức bật cho nền kinh tế, chúng ta khó có thể khăng khăng giữ vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế Nhà nước, hay nói đúng hơn, dành quá nhiều ưu ái cho khu vực kinh tế này. Một ví dụ nho nhỏ về sự lãng phí nguồn lực được đưa ra tại diễn đàn kinh tế lần này: Ở tỉnh Quảng Ninh (và chắc hẳn không chỉ Quảng Ninh) – có một số công chức Nhà nước nhận lương 1 tháng 8 triệu (mức lương mơ ước với cử nhân mới ra trường tại thủ đô Hà Nội) với công việc duy nhất là…mang báo cho lãnh đạo hàng ngày!
Theo bà Phạm Chi Lan, đó là một sự lãng phí đến mức không tưởng tượng nổi. Bà cũng nhắc lại con số hàng chục nghìn lao động ngành than hiện đang dư thừa, và ước chừng số tiền lãng phí hàng năm lên tới hàng nghìn tỷ đồng. Không có cơ chế kinh tế nào vận hành hiệu quả lại như vậy cả! Những sai lầm trong việc bổ nhiệm nhân sự, không thể cứ thế bắt xã hội "gánh" được. 
Hiện nhiều quốc gia đang áp dụng chủ thuyết thực dụng (pragmatism) trong hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô, kết hợp cách thức điều hành hiệu quả nhất mà hai trường phái kinh tế lớn trong lịch sử đưa ra để áp dụng trên thực tế cho một nền kinh tế: (i) Trường phái Keynes cho rằng sự can thiệp đúng lúc của Chính phủ là rất quan trọng để ổn định nền kinh tế và (ii) trường phái tân tự do cho rằng vai trò của Chính phủ là duy trì sự ổn định kinh tế Vĩ mô, bên cạnh đó, các chính sách như khuyền khích phát triển kinh tế tư nhân, tăng cường kỷ luật tài khóa, lãi suất theo cơ chế thị trường, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài một cách hiệu quả, cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước,…chính là cơ sở để cơ cấu kinh tế sẽ tự điều chỉnh theo hướng hiệu quả, hợp lý hơn và thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế.
Những sự kết hợp nói trên, nhìn chung, có trong giáo trình của hầu hết các bộ môn về kinh tế. 
Ông Nguyễn Đức Kiên, Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội, trong trao đổi gần đây với báo chí cho rằng, hiện nay chúng ta phát triển kinh tế không theo một chủ thuyết, hoặc có chủ thuyết mà không được thực hiện tốt. Chúng ta đang ôm đồm nhiều quá, mong muốn nhiều quá. Cái gì cũng muốn làm, từ bao cấp cho học sinh đi học, khám chữa bệnh, xóa nhà tranh tre,...trong khi nguồn lực rất có hạn.
Rõ ràng, đây không phải lần đầu tiên tư duy "đa mục tiêu" được các nhà nghiên cứu nhắc đến. Diễn đàn kinh tế mùa thu 2013, chuyên gia Phạm Hồng Chương đến từ Đại học Kinh tế Quốc dân đã một lần vạch ra rằng,đã đến lúc chúng ta từ bỏ tư duy đa mục tiêu trong hoạch định chính sách. 
Cái chúng ta đang lúng túng, chưa thực sự tiến hành cải cách, có chăng, là việc chúng ta đang “mò mẫm” cái thể chế kinh tế vốn không tồn tại, như Bộ trưởng Bùi Quang Vinh đã chia sẻ.  
Xin kết bài với khuyến nghị của ông Lê Xuân Bá: Cái gì có lợi cho đất nước cho dân tộc thì làm, cái gì không lợi thì bỏ, không câu nệ. 
Minh Thư
Theo Trí Thức Trẻ