Trang

9 tháng 5, 2014

Biểu tình chống TQ xâm lược tại Hà Nội


5 thực phẩm từ TQ phải tránh xa


Từ hoá chất chết người melamine có trong sữa đến mật ong độc hại, Trung Quốc từ lâu đã cho phép thực phẩm chứa độc tố (và những sản phẩm xuất khẩu nguy hiểm khác) vượt quá giới hạn.
Dưới đây là top 5 loại thực phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc mà tờ Epoch Times khuyến nghị nên cẩn thận:
1. Cá rô phi
Theo thông tin đăng tải trên một tờ báo của Pháp, nguồn nguyên liệu chế biến thực phẩm đông lạnh từ Trung Quốc (TQ), đặc biệt là cá rô phi để làm phi lê đông lạnh ẩn chứa nhiều loại chất cấm độc hại, các loại kháng sinh… do người nuôi đưa vào thức ăn hay môi trường sống để kích thích cá sinh trưởng, phát triển khiến các cơ quan nhập khẩu dù có thiết bị giám sát cũng khó phát hiện ra. Nguồn cá này thực tế các hộ nhỏ lẻ nuôi, sau đó các công ty thu mua chế biến, nhưng dưới hình thức là công ty tự nuôi theo quy trình an toàn. Nhiều nước châu Âu thường xuyên đưa ra những danh mục cấm các loại hóa chất độc hại. Tuy nhiên, cấm chất này, người nuôi lại tìm cách đưa chất khác vào.
ung-thư, Việt-Nam, thực-phẩm, thuốc-trừ-sâu, hóa-chất, thực-phẩm-Trung-Quốc , Trung-Quốc, nước-ép , Cá-tuyết, nấm, độc-hại, tỏi, Cá-rô-phi, đông-lạnhung-thư, Việt-Nam, thực-phẩm, thuốc-trừ-sâu, hóa-chất, thực-phẩm-Trung-Quốc , Trung-Quốc, nước-ép , Cá-tuyết, nấm, …
Nhiều người biết rằng người nuôi cá ở Trung Quốc không cho con cái họ ăn cá mà họ nuôi. Có một báo cáo một số năm trước ở Trung Quốc về trường hợp một bé gái sống ở một làng cá bắt đầu có kinh nguyệt khi mới lên 7 do hàm lượng hormone dùng trong việc nuôi cá quá cao. Người nuôi cá sử dụng những loại hormone tăng trưởng và kháng sinh mạnh để cá có thể sống được trong môi trường đông nghịt bẩn thỉu.
Có nhiều lời thắc mắc về việc cá rô phi Trung Quốc đã bán ở Việt Nam chưa? Theo nhà quản lý thị trường, hiện nay, sản phẩm cá rô phi bán ngoài chợ hầu hết được cung cấp từ các hộ nuôi trồng của Việt Nam. Nhưng trong tình hình hàng Trung Quốc có thể tràn sang Việt Nam thượng vàng hạ cám thì người tiêu dùng cũng nên thận trọng.
2. Cá tuyết
Khoảng 51% số lượng cá tuyết trong các chợ ở Mỹ có xuất xứ từ Trung Quốc, tương đương 70,7 triệu pound (khoảng 32 nghìn tấn) mỗi năm. Những điều nói về cá rô phi cũng tương tự đối với người nuôi cá tuyết.
ung-thư, Việt-Nam, thực-phẩm, thuốc-trừ-sâu, hóa-chất, thực-phẩm-Trung-Quốc , Trung-Quốc, nước-ép , Cá-tuyết, nấm, độc-hại, tỏi, Cá-rô-phi, đông-lạnh
Cá tuyết ở Việt Nam được liệt vào hàng đặc sản, hầu hết bán trong những nhà hàng nhưng nguồn gốc từ loại cá này từ đâu thì không ai kiểm chứng được.
3. Nước ép táo
Nếu bạn mua một hộp nước ép táo giá rẻ có mùi vị không ngon lắm, nó có thể đã trải qua một chặng đường vận chuyển dài - tất cả đều từ Trung Quốc. Khoảng 50% số lượng nước ép táo được bán ở Mỹ có xuất xứ từ Trung Quốc - khoảng 367 triệu gallon (khoảng 1.4 triệu mét khối) hằng năm.
Hộp nước ép ngon và đẹp mắt bạn đặt vào bữa trưa của con bạn. Thay vì đưa một lon nước có gas, bạn đã cho con uống thứ nước có vẻ "tốt cho sức khỏe" nhưng chứa đầy thạch tín, một thứ kim loại nặng có thể gây ung thư.
ung-thư, Việt-Nam, thực-phẩm, thuốc-trừ-sâu, hóa-chất, thực-phẩm-Trung-Quốc , Trung-Quốc, nước-ép , Cá-tuyết, nấm, độc-hại, tỏi, Cá-rô-phi, đông-lạnh
Điều chắc chắn là, giá của sản phẩm Trung Quốc rẻ hơn giá sản phẩm của các nhà nông Mỹ. Nhưng có một lý do làm cho nó rẻ là vì các vườn cây Trung quốc dùng rất nhiều các loại thuốc trừ sâu bất hợp pháp có chứa thạch tín để rồi thấm vào cây và đọng vào trong quả.
Bã thuốc trừ sâu vẫn còn trong trái cây, rau, và thực phẩm chế biến khi đưa đến nhà cung cấp thực phẩm đã từ lâu là một vấn nạn. Trung Quốc là nhà sản xuất thuốc trừ sâu lớn nhất thế giới và thất bại trên diện rộng trong việc xác định những bã hoá chất trái phép hoặc nguy hiểm có trong thực phẩm. Bằng chứng là nước này có những mức giới hạn bã hoá chất rất hào phóng.
Ở Việt Nam, mặc dù người tiêu dùng đã rất cẩn trọng với hoa quả có nguồn gốc từ Trung Quốc nhưng nguồn gốc các loại nước ép trái cây thì được ít người quan tâm.
ung-thư, Việt-Nam, thực-phẩm, thuốc-trừ-sâu, hóa-chất, thực-phẩm-Trung-Quốc , Trung-Quốc, nước-ép , Cá-tuyết, nấm, độc-hại, tỏi, Cá-rô-phi, đông-lạnh
4. Nấm tươi
Các cơ quan chức năng của tỉnh Phúc Kiến, miền đông nam Trung Quốc đã thu giữ 35 tấn nấm đang được xử lý bằng các chất công nghiệp có thể gây ung thư. Cụ thể, chúng được ngâm trong hóa chất axit citric công nghiệp.
Các chuyên gia cho biết việc cho axit citric vào nấm giúp bảo quản nấm tươi ngon tới 1 năm. Một số người sản xuất đã sử dụng loại hóa chất này để thay cho chất bảo quản không độc hại khác nhằm làm giảm giá thành sản phẩm.
Các chuyên gia y tế cho biết axit citric công nghiệp này có hại cho hệ thần kinh của con người vì nó có thể gây dị ứng và gây ung thư.
ung-thư, Việt-Nam, thực-phẩm, thuốc-trừ-sâu, hóa-chất, thực-phẩm-Trung-Quốc , Trung-Quốc, nước-ép , Cá-tuyết, nấm, độc-hại, tỏi, Cá-rô-phi, đông-lạnh
Ở Việt Nam, hầu hết nấm tươi bán ngoài chợ đều không có nguồn gốc rõ ràng và phần nhiều trong chúng được nhập về từ Trung Quốc.
Ngoài ra, bạn cũng cần cố gắng tránh xa những loại nấm đóng hộp; 34% lượng nấm chế biến sẵn là từ Trung Quốc, tức là 62,9 triệu pound (khoảng 28,5 nghìn tấn) mỗi năm.
5. Tỏi
Có rất nhiều cách mà tỏi có thể được cho vào trong thức ăn chế biến sẵn. Khoảng 31% số tỏi, tức là 217,5 triệu pound (khoảng 98,6 nghìn tấn), là từ Trung Quốc. Bạn có thể thấy chúng được dán nhãn “sản phẩm hữu cơ” nhưng thực chất không có bên thứ ba nào kiểm tra và chứng nhận những sản phẩm “hữu cơ” ở Trung Quốc. Để kiếm lời, ai cũng có thể dán nhãn “hữu cơ”.
Ở Việt Nam, những loại gia vị như hành, tỏi, gừng có nguồn gốc Trung Quốc được bán tràn lan ngoài chợ và được rất nhiều người lựa chọn vì giá rẻ.
(Theo Trí Thức Trẻ)

Vụ ông Nguyễn Thanh Chấn ngồi tù oan: Bắt Phó trưởng công an huyện và kiểm sát viên


(TNO) Liên quan đến vụ án oan 10 năm của ông Nguyễn Thanh Chấn, sáng nay 9.5, Cơ quan điều tra Viện KSND tối cao đã khởi tố bị can, thực hiện lệnh bắt tạm giam ông Đặng Thế Vinh, cán bộ thuộc Viện KSND tỉnh Bắc Giang và ông Trần Nhật Luật, Phó trưởng Công an huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

Cả hai bị can bị khởi tố, bắt giam để điều tra về hành vi cố tình "làm sai lệch hồ sơ vụ án” theo điều 300 BLHS.
Được biết, hành vi các bị can này có liên quan đến việc điều tra, kiểm sát trong vụ án “Nguyễn Thanh Chấn giết người”, khiến ông Chấn phải ngồi tù oan 10 năm.
 Vụ ông Chấn ngồi tù oan: Bắt Phó trưởng công an huyện và kiểm sát viên
Ông Nguyễn Thanh Chấn được tạm đình chỉ thi hành án - Ảnh: Thái Sơn
Theo hồ sơ vụ án, ngày 15.8.2003, chị Nguyễn Thị Hoan bị giết hại tại thôn Me, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, Bắc Giang. Ngày 17.8.2003, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Giang khởi tố vụ án giết người.
 Ngày 29.9.2003, Nguyễn Thanh Chấn, trú cùng thôn với nạn nhân, bị Công an huyện Việt Yên ra quyết định khởi tố bị can, bắt tạm giam về tội giết người. Ngày 26.3.2004, TAND tỉnh Bắc Giang tuyên Nguyễn Thanh Chấn phạm tội giết người, án tù chung thân. Ngày 26-27.7.2004, TAND tối cao tuyên y án sơ thẩm, bác kháng cáo kêu oan của bị cáo.
Ngày 5.7.2013, bà Nguyễn Thị Chiến (vợ Nguyễn Thanh Chấn) có đơn kêu oan gửi đến Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cho rằng thủ phạm chị Hoan là một người khác.
Đến ngày 25.10.2013, Lý Nguyễn Chung, ngụ cùng thôn với ông Chấn ra đầu thú, khai nhận hành vi giết chị Nguyễn Thị Hoan để cướp tài sản.
Ngày 29.10.2013, VKSND tối cao khởi tố vụ án hình sự giết người, cướp tài sản; khởi tố bị can với Chung về hai hành vi này.
Tháng 11.2013, ông Nguyễn Thanh Chấn được tạm đình chỉ thi hành án trở về nhà sau đó được hủy 2 bản án sơ thẩm và phúc thẩm về tội giết người. Đến tháng 1.2014, ông Chấn được hủy quyết định khởi tố bị can và được tuyên bố vô tội.
Liên quan đến vụ án “giết người, cướp tài sản” do nghi can Lý Nguyễn Chung gây ra, cơ quan điều tra của VKSND tối cao chuyển toàn bộ sang Cơ quan Cảnh sát điều tra, Bộ Công an để điều tra theo thẩm quyền. Cục điều tra Viện KSND tối cao theo thẩm quyền sẽ làm rõ việc xâm phạm hoạt động tư pháp.
Được biết, sau khi được trả tự do, ông Chấn đã gửi đơn đến nhiều cơ quan chức năng phản ánh việc bị điều tra viên ép cung, nhục hình.
Thái Sơn 

'TQ khiến các nước liên kết với Mỹ, Nhật và với nhau'

(TNO) Đó là nhận định của Phó giáo sư Taylor Fravel, một nhà nghiên cứu về khoa học chính trị tại Học viện Công nghệ Massachusetts (Mỹ), khi bàn về vụ Trung Quốc trái phép đem giàn khoan HD 981 vào vùng biển Việt Nam, được tờ New York Times đăng tải hôm 8.5.

Toàn cảnh vụ Trung Quốc đặt hạ trái phép giàn khoan trên vùng biển Việt Nam

Phó giáo sư Taylor Fravel, một nhà nghiên cứu về khoa học chính trị tại Học viện Công nghệ Massachusetts (Mỹ) - Ảnh: Reuters 
Trung Quốc hiếu chiến và thích hành động đơn phương
“Hành động của Trung Quốc chỉ có tác dụng củng cố nhận thức của các nước khác có tuyên bố chủ quyền tại biển Đông rằng Bắc Kinh luôn có ý định hiếu chiến và thích hành động đơn phương”, ông Fravel nói.
Vị phó giáo sư Mỹ này còn nói thêm rằng việc đem giàn khoan HD 981 vào vùng biển Việt Nam của Trung Quốc còn khiến các quốc gia nói trên gia tăng gấp đôi các biện pháp phòng vệ.
“Các quốc gia này nhiều khả năng sẽ đầu tư mạnh hơn cho hải quân, cũng như năng lực thực thi pháp lý trên biển, tìm kiếm hợp tác an ninh hàng hải với Mỹ, Nhật Bản, với các nước khác và có lẽ là cả với nhau”, ông Fravel dự đoán.
Ông cũng nhận định với New York Times rằng “nguy cơ bùng nổ xung đột là có thật”.
“Việc nhiều tàu thuyền kèn cựa nhau để kiểm soát một khu vực nhỏ trên biển sẽ làm tăng khả năng phát sinh các sơ xuất và đụng độ có thể nâng cao thành xung đột vũ trang”, ông Fravel cảnh báo.
Việt Nam cương quyết bảo vệ lãnh thổ
Chuyên gia này cũng đánh giá rằng chính phủ Việt Nam đã cho thấy sự cương quyết của mình trong vài năm trước đây khi điều động tàu công vụ ra ngăn cản “những hành vi hung hăng đe dọa quyền lợi nước mình của Trung Quốc”.
“Hồi năm 2007, Việt Nam đã ngăn Trung Quốc tiến hành khảo sát địa chấn trong vùng biển gần quần đảo Hoàng Sa. Rồi vào năm 2010, tàu Việt Nam cũng đã vây một tàu tuần tra của Trung Quốc khi tàu này đi vào vùng biển của Việt Nam”, theo ông Fravel.
Phó giáo sư Fravel nhận định rằng việc Trung Quốc đem giàn khoan vào vùng biển Việt Nam là một hành động nhằm mục đích chính trị, chứ không phải kinh tế, vì có rất ít bằng chứng cho thấy vùng mà giàn khoan HD-981 đang hoạt động có nhiều dự trữ dầu khí.
Ngoài ra, chi phí vận hành giàn khoan 1 tỉ USD mỗi ngày là rất lớn, làm nảy sinh câu hỏi vì sao Trung Quốc lại khai thác ở khu vực có không mấy tiềm năng như vậy, theo ông Fravel. 
“Do Tổng thống Mỹ Barack Obama mới có chuyến thăm châu Á, gồm hai nước có tuyên bố chủ quyền ở biển Đông là Philippines và Malaysia, nên có thể Trung Quốc cũng muốn dò thử cam kết “xoay trục” về châu Á của Mỹ", chuyên gia Mỹ nhận định.
Phản ứng của Mỹ đối với việc Trung Quốc gây hấn với Việt Nam
Khi được hỏi về phản ứng của Mỹ đối với vụ việc kể trên, ông Fravel cho rằng Mỹ “cần phải kêu gọi tất cả các bên không nên hành động đơn phương”.
“Mỹ cũng có thể dùng vụ việc này để làm nổi bật sự cần thiết của Bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông nhằm ngăn ngừa những vụ việc tương tự có thể diễn ra trong tương lai”, ông Fravel cho hay.
Bình luận về vị trí của Mỹ trong vụ Trung Quốc gây hấn với Việt Nam, vị phó giáo sư này cho biết chính sách của Mỹ là không đứng về phía nào trong tranh chấp chủ quyền lãnh thổ ở biển Đông.
“Tuy nhiên, Mỹ cũng đã nhấn mạnh rằng nước này có quyền lợi then chốt tại khu vực này, bao gồm tự do hàng hải, giải pháp hòa bình cho các tranh chấp và tránh để xảy ra tình trạng uy hiếp, dọa nạt trong các tranh chấp”, theo ông Fravel.
Hoàng Uy

Cận cảnh khu VIP sếp người Đài trong siêu DA tỷ đô


- Tòa nhà khách 9 tầng với 418 phòng sang trọng bên trong Siêu DA Formosa (huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh) vừa mới được đưa vào sử dụng. Trong đó, tại tầng 9 có 9 phòng dành riêng cho 9 lãnh đạo cao cấp nhất của Tập đoàn Formosa (Đài Loan).
Theo một cán bộ kỹ thuật thi công tòa nhà khách Formosa, trong 9 tầng của tòa nhà thì đặc biệt nhất là tầng thứ 9. Nơi đây có 9 phòng ngủ, nghỉ, phòng ăn, thể dục thể thao, khu karaoke giải trí của Chủ tịch, Tổng Giám đốc và các lãnh đạo cao cấp của Tập đoàn.
Chùm ảnh bên trong tầng ‘đặc biệt’ nhất của nhà khách Siêu DA 15 tỷ đô do VietNamNet ghi lại:
dự án, tỷ đô, Đài Loan, Formosa
Khu vực tiếp khách quan trọng tại tầng 9, tòa nhà khách Formosa.
dự án, tỷ đô, Đài Loan, Formosa
Nội thất được bố trí đơn giản nhưng toát lên vẻ sang trọng.

dự án, tỷ đô, Đài Loan, Formosa
Phòng ăn của các lãnh đạo cao cấp nhất của Chủ quản, Tổng tài người Đài Loan.

dự án, tỷ đô, Đài Loan, Formosa

dự án, tỷ đô, Đài Loan, Formosa
Các vị trí trên bàn ăn có ghi tên của từng vị lãnh đạo tập đoàn.

dự án, tỷ đô, Đài Loan, Formosa
Nơi đây chỉ dành cho những lãnh đạo cao cấp nhất của Tập đoàn Formosa.

dự án, tỷ đô, Đài Loan, Formosa
Một trong chín phòng ngủ cao cấp nhất của tòa nhà.

dự án, tỷ đô, Đài Loan, Formosa
Nhà đầu tư đến từ Đài Loan đã làm hẳn 1 phòng hát karaoke để cho lãnh đạp tập đoàn thư giãn, giải trí.

dự án, tỷ đô, Đài Loan, Formosa
Hành lang đi vào khu nghỉ VIP nhất của tòa nhà.

dự án, tỷ đô, Đài Loan, Formosa
Tờ thông báo ghi: Ngoài các chủ quan cấp cao, các nhân viên phải cởi giày khi vào khu vực này.

dự án, tỷ đô, Đài Loan, Formosa
Khu thể dục, thể thao phía trên tầng thượng tòa nhà.

dự án, tỷ đô, Đài Loan, Formosa
Toàn cảnh tòa nhà 9 tầng mới xây dựng. Từ tầng 1 đến tầng 8, có khoảng 400 phòng, dùng cho chủ quản cấp 1 người Đài ở và cho các nhà thầu thuê ở. Giá mỗi phòng 80 USD/ngày. Nếu làm hợp đồng thì giá thuê là 60 USD.

dự án, tỷ đô, Đài Loan, Formosa
Một góc bên trong siêu dự án 15 tỷ đô ở Vũng Áng, Hà Tĩnh.
Duy Tuấn - Bùi Tiến

Thủ phạm' gây ngờ vực Mỹ - Trung

Sự hoài nghi này đang làm trầm trọng hóa các căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc. Vậy đâu là "thủ phạm"?
Chuyến thăm mới đây của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel tới Trung Quốc, chuyến công du của lãnh đạo Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ Gina McCarthy tới Đài Loan cũng như phản ứng của giới lãnh đạo Trung Quốc trước những sự kiện này cho thấy mối quan hệ Mỹ - Trung tiếp tục trải qua cái mà nhiều chuyên gia gọi là "sự ngờ vực chiến lược".
Sự hoài nghi này đang làm trầm trọng hóa các căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc. Vậy đâu là "thủ phạm" của sự hoài nghi chiến lược Trung - Mỹ?
Các thông cáo chung năm 1972, 1979 và 1982 đóng vai trò như những nền tảng cho quan hệ Mỹ - Trung, đồng thời nghịch lý là cũng làm xói mòn quan hệ song phương trong 2 vấn đề then chốt là Đài Loan và Nhật Bản.
Mỹ, TRung, Tập Cận Bình, Obama, thông cáo, Đài Loan, Nhật Bản, tranh chấp lãnh thổ
Ông Obama và Tập Cận Bình trong một cuộc gặp hồi tháng 3 năm nay. Ảnh: Reuters
Vấn đề Đài Loan
Sự hoài nghi trong vấn đề Đài Loan hiển nhiên giữ vai trò quan trọng trong quan hệ Mỹ - Trung, vì nó chiếm vị trí trung tâm trong cả 3 thông cáo chung. Tuy nhiên, mỗi thông cáo chứa đựng sự nhập nhằng về cấu trúc ngôn từ trực tiếp về nền tảng của quan hệ Mỹ - Trung. Ngôn từ được dùng hé lộ, mỗi bên có cách hiểu khác nhau và quan điểm đối lập về tương lai chính trị của "một Trung Quốc".
Đảng cộng sản Trung Quốc (CPC) tuyên bố là nhà cầm quyền hợp pháp của "một Trung Quốc" và nhấn mạnh quan điểm buộc giới chức Mỹ phải chấp nhận tính hợp pháp của Đảng và trao trả Đài Loan về cho Trung Quốc. Quan điểm của Mỹ công nhận CPC, nhưng vẫn giữ thái độ không rõ ràng, chỉ "thừa nhận một chính phủ hợp pháp" của "một Trung Quốc" mà không nói rõ đó là chính phủ nào.
Quan điểm mập mờ của Washington đã rõ ràng hơn khi xem xét các thay đổi liên quan đến quan hệ Mỹ - Đài Loan. Lấy các hành động của quốc hội Mỹ làm ví dụ. Các hành động này cho thấy sự ủng hộ mạnh mẽ về văn hóa, phòng vệ, kinh tế và chính trị đối với giới cầm quyền và cư dân Đài Loan.
Chúng cũng xảy ra trong một bối cảnh được định hình bằng các tiền lệ mạnh mẽ. Xét về lịch sử, phía Mỹ đã hậu thuẫn đồng minh Thế chiến hai Tưởng Giới Thạch và Quốc dân đảng (KMT) trong cuộc nội chiến của Trung Quốc. Kết thúc chiến tranh, thông qua các thỏa thuận Cairo, Potsdam và Yalta, Mỹ cùng với các cường quốc khác đã trao trả Đài Loan cho Trung Quốc. Vào thời điểm đó, KMT là đảng cầm quyền của "một Trung Quốc".
Trong các thập niên tiếp theo, phía Mỹ tiếp tục ủng hộ KMT, đồng thời tham gia các cuộc chiến gián tiếp với CPC và mất 30 năm mới thừa nhận CPC là đảng cầm quyền hợp pháp của Trung Quốc đại lục. Bối cảnh quan hệ Mỹ - KMT như thế này đã tăng thêm nét đặc trưng cho quan điểm mập mờ của Washington.
Trong thông cáo năm 1982, giới cầm quyền Mỹ từng trấn an rằng, nước này sẽ giảm và chấm dứt việc bán vũ khí cho Đài Loan, trong khi giới chức Trung Quốc cam kết một giải pháp hòa bình cho vấn đề Đài Loan. Đối với Mỹ, suốt hơn 30 năm, nước này đã bán vũ khí cho chính quyền Đài Loan.
Giới lãnh đạo Trung Quốc đã và vẫn tiếp tục lo lắng trước một số hợp đồng mua bán và các cuộc thảo luận mua bán vũ khí có tính năng tấn công, chẳng hạn như vào năm 1992, khi Mỹ bán các chiến đấu cơ F-16 A/B cho Đài Loan. Thêm vào đó, phía Trung Quốc coi các cuộc thảo luận mua bán vũ khí giữa các quan chức Mỹ và Đài Loan tương đương với sự hậu thuẫn chính thức về chính trị và quân sự cũng như công nhận Đài Loan.
Về phần mình, nhà cầm quyền Trung Quốc cam kết sự tái thống nhất một cách hòa bình. Tuy nhiên, họ nhấn mạnh có quyền dùng vũ lực chống lại Đài Loan và vào năm 1995 đã xác định 3 điều kiện buộc phải vận dụng sức mạnh quân sự.
Từ quan điểm của Mỹ, một vấn đề trọng yếu là, quân đội Trung Quốc vẫn duy trì hơn 1.100 tên lửa tầm ngắn và tầm trung triển khai ở các tỉnh Giang Tây và Phúc Kiến. Việc dàn trận tên lửa này không chỉ đe dọa Đài Loan và Nhật, 2 vùng lãnh thổ Mỹ đều nhận được yêu cầu bảo vệ, mà còn đe dọa cả các cơ sở quân sự của Mỹ ở Nhật.
Mỹ, TRung, Tập Cận Bình, Obama, thông cáo, Đài Loan, Nhật Bản, tranh chấp lãnh thổ
Tiêm kích đa năng F-16A/B Đài Loan
Vần đề Nhật Bản
Nguồn cơn thứ hai của sự ngờ vực chiến lược là Nhật. Bất chấp ảnh hưởng lớn của quan hệ Mỹ - Nhật đối với quan hệ Mỹ - Trung, chỉ thông cáo chung Thượng Hải năm 1972 đề cập tới Nhật.
Theo thông cáo, phía Trung Quốc tuyên bố, "họ kiên quyết phản đối sự mở rộng mang tính khôi phục và tiến xa hơn của chủ nghĩa quân phiệt Nhật, cũng như kiên quyết ủng hộ nguyện vọng của người dân Nhật về việc xây dựng một nước Nhật độc lập, dân chủ, hòa bình và trung lập". Phía Mỹ nhấn mạnh, nước này "đề cao nhất mối quan hệ thân thiện với Nhật và sẽ tiếp tục phát triển các mối ràng buộc chặt chẽ đã có".
Trong quan niệm của Trung Quốc, Washington là tác nhân chính cho sự chuyển biến của Nhật. Theo thời gian, Mỹ đã giúp biến lực lượng tự phòng vệ của Nhật trở thành một quân đội quốc gia. Và nước này cũng hỗ trợ phía Nhật thâu tóm và sản xuất các hệ thống vũ khí công nghệ tiên tiến, một vài trong số chúng có khả năng tấn công, thông qua sự cộng tác. Ngay trong hiện tại, giới lãnh đạo Trung Quốc coi Mỹ là tác nhân chính cho sự trỗi dậy của Nhật và rằng nước này thiếu quyết tâm chính trị để kiềm chế một nước Nhật ngày càng quả quyết.
Cả phía Mỹ và Trung Quốc trong các thông cáo năm 1972 và 1978 đều nhất trí rằng, không bên nào theo đuổi quyền bá chủ và sự thống trị ảnh hưởng trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Đối với Trung Quốc, các thỏa thuận an ninh Mỹ - Nhật và quy mô chống đỡ quân sự của Mỹ không chỉ hé lộ việc Washington đang theo đuổi vị trí bá chủ trong khu vực, mà còn cho thấy họ đang thông đồng với Nhật (và với Philippines) để tạo ra tầm ảnh hưởng trong khu vực.
Trong cấu trúc khu vực tiềm năng, Mỹ và Nhật Bản sẽ nằm ở vị trí lãnh đạo trung tâm, và tầm ảnh hưởng bao gồm bán đảo Triều Tiên, khu vực eo biển Đài Loan cũng như các khu vực kéo dài đến eo biển Malacca. Về cơ bản, các lãnh đạo Trung Quốc tin rằng, giới chức Mỹ có thiết kế đầy tham vọng cho khu vực, bao gồm cả vai trò trọng yếu đối với Nhật Bản. Và vì những lí do hiển nhiên này, Mỹ đã cắt xén cam kết trong các thông cáo năm 1972 và 1978.
Ngược lại, phía Mỹ có thể cảm thấy rằng, giới lãnh đạo Trung Quốc đang nhắm loại bỏ Mỹ và thiết lập một cấu trúc khu vực với Trung Quốc ở trung tâm. Chẳng hạn như, Bắc Kinh đã theo đuổi các tính năng vũ khí tiên tiến, bao gồm tên lửa chống tàu và các phương tiện siêu thanh ít hoặc thiếu minh bạch cũng như không có đối thoại thể chế.
Từ quan điểm của Mỹ, các khả năng ngày càng tăng, ẩn giấu sau "bức tường chắn sáng khổng lồ" cho thấy, giới lãnh đạo Trung Quốc có thể là một mối đe dọa mới mẻ. Để đáp lại, giới chức Mỹ hiện có xu hướng chơi "quân cờ Nhật Bản," "quân cờ Philippines" và cả "quân cờ Hàn Quốc" để tạo ra các trung tâm quyền lực nhằm đối đầu và làm đối trọng với sự trỗi dậy của Trung Quốc.
Trong quá khứ, cách tiếp cận này đã dẫn đến các cuộc chiến tranh thế giới. Tuy nhiên, đối với hiện tại, nó đã khuyến khích giới lãnh đạo Trung Quốc thực thi các biện pháp phòng vệ và tấn công ngày càng chủ động hơn.
Quỳnh Anh(theo The Diplomat)
* Tác giả bài viết, tiến sĩ JM Norton, hiện giảng dạy về quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại của Mỹ tại Đại học Ngoại giao Trung Quốc (CFAU) ở Bắc Kinh, Trung Quốc. 

Sự hoài nghi này đang làm trầm trọng hóa các căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc. Vậy đâu là "thủ phạm"?
Chuyến thăm mới đây của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel tới Trung Quốc, chuyến công du của lãnh đạo Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ Gina McCarthy tới Đài Loan cũng như phản ứng của giới lãnh đạo Trung Quốc trước những sự kiện này cho thấy mối quan hệ Mỹ - Trung tiếp tục trải qua cái mà nhiều chuyên gia gọi là "sự ngờ vực chiến lược".
Sự hoài nghi này đang làm trầm trọng hóa các căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc. Vậy đâu là "thủ phạm" của sự hoài nghi chiến lược Trung - Mỹ?
Các thông cáo chung năm 1972, 1979 và 1982 đóng vai trò như những nền tảng cho quan hệ Mỹ - Trung, đồng thời nghịch lý là cũng làm xói mòn quan hệ song phương trong 2 vấn đề then chốt là Đài Loan và Nhật Bản.
Mỹ, TRung, Tập Cận Bình, Obama, thông cáo, Đài Loan, Nhật Bản, tranh chấp lãnh thổ
Ông Obama và Tập Cận Bình trong một cuộc gặp hồi tháng 3 năm nay. Ảnh: Reuters
Vấn đề Đài Loan
Sự hoài nghi trong vấn đề Đài Loan hiển nhiên giữ vai trò quan trọng trong quan hệ Mỹ - Trung, vì nó chiếm vị trí trung tâm trong cả 3 thông cáo chung. Tuy nhiên, mỗi thông cáo chứa đựng sự nhập nhằng về cấu trúc ngôn từ trực tiếp về nền tảng của quan hệ Mỹ - Trung. Ngôn từ được dùng hé lộ, mỗi bên có cách hiểu khác nhau và quan điểm đối lập về tương lai chính trị của "một Trung Quốc".
Đảng cộng sản Trung Quốc (CPC) tuyên bố là nhà cầm quyền hợp pháp của "một Trung Quốc" và nhấn mạnh quan điểm buộc giới chức Mỹ phải chấp nhận tính hợp pháp của Đảng và trao trả Đài Loan về cho Trung Quốc. Quan điểm của Mỹ công nhận CPC, nhưng vẫn giữ thái độ không rõ ràng, chỉ "thừa nhận một chính phủ hợp pháp" của "một Trung Quốc" mà không nói rõ đó là chính phủ nào.
Quan điểm mập mờ của Washington đã rõ ràng hơn khi xem xét các thay đổi liên quan đến quan hệ Mỹ - Đài Loan. Lấy các hành động của quốc hội Mỹ làm ví dụ. Các hành động này cho thấy sự ủng hộ mạnh mẽ về văn hóa, phòng vệ, kinh tế và chính trị đối với giới cầm quyền và cư dân Đài Loan.
Chúng cũng xảy ra trong một bối cảnh được định hình bằng các tiền lệ mạnh mẽ. Xét về lịch sử, phía Mỹ đã hậu thuẫn đồng minh Thế chiến hai Tưởng Giới Thạch và Quốc dân đảng (KMT) trong cuộc nội chiến của Trung Quốc. Kết thúc chiến tranh, thông qua các thỏa thuận Cairo, Potsdam và Yalta, Mỹ cùng với các cường quốc khác đã trao trả Đài Loan cho Trung Quốc. Vào thời điểm đó, KMT là đảng cầm quyền của "một Trung Quốc".
Trong các thập niên tiếp theo, phía Mỹ tiếp tục ủng hộ KMT, đồng thời tham gia các cuộc chiến gián tiếp với CPC và mất 30 năm mới thừa nhận CPC là đảng cầm quyền hợp pháp của Trung Quốc đại lục. Bối cảnh quan hệ Mỹ - KMT như thế này đã tăng thêm nét đặc trưng cho quan điểm mập mờ của Washington.
Trong thông cáo năm 1982, giới cầm quyền Mỹ từng trấn an rằng, nước này sẽ giảm và chấm dứt việc bán vũ khí cho Đài Loan, trong khi giới chức Trung Quốc cam kết một giải pháp hòa bình cho vấn đề Đài Loan. Đối với Mỹ, suốt hơn 30 năm, nước này đã bán vũ khí cho chính quyền Đài Loan.
Giới lãnh đạo Trung Quốc đã và vẫn tiếp tục lo lắng trước một số hợp đồng mua bán và các cuộc thảo luận mua bán vũ khí có tính năng tấn công, chẳng hạn như vào năm 1992, khi Mỹ bán các chiến đấu cơ F-16 A/B cho Đài Loan. Thêm vào đó, phía Trung Quốc coi các cuộc thảo luận mua bán vũ khí giữa các quan chức Mỹ và Đài Loan tương đương với sự hậu thuẫn chính thức về chính trị và quân sự cũng như công nhận Đài Loan.
Về phần mình, nhà cầm quyền Trung Quốc cam kết sự tái thống nhất một cách hòa bình. Tuy nhiên, họ nhấn mạnh có quyền dùng vũ lực chống lại Đài Loan và vào năm 1995 đã xác định 3 điều kiện buộc phải vận dụng sức mạnh quân sự.
Từ quan điểm của Mỹ, một vấn đề trọng yếu là, quân đội Trung Quốc vẫn duy trì hơn 1.100 tên lửa tầm ngắn và tầm trung triển khai ở các tỉnh Giang Tây và Phúc Kiến. Việc dàn trận tên lửa này không chỉ đe dọa Đài Loan và Nhật, 2 vùng lãnh thổ Mỹ đều nhận được yêu cầu bảo vệ, mà còn đe dọa cả các cơ sở quân sự của Mỹ ở Nhật.
Mỹ, TRung, Tập Cận Bình, Obama, thông cáo, Đài Loan, Nhật Bản, tranh chấp lãnh thổ
Tiêm kích đa năng F-16A/B Đài Loan
Vần đề Nhật Bản
Nguồn cơn thứ hai của sự ngờ vực chiến lược là Nhật. Bất chấp ảnh hưởng lớn của quan hệ Mỹ - Nhật đối với quan hệ Mỹ - Trung, chỉ thông cáo chung Thượng Hải năm 1972 đề cập tới Nhật.
Theo thông cáo, phía Trung Quốc tuyên bố, "họ kiên quyết phản đối sự mở rộng mang tính khôi phục và tiến xa hơn của chủ nghĩa quân phiệt Nhật, cũng như kiên quyết ủng hộ nguyện vọng của người dân Nhật về việc xây dựng một nước Nhật độc lập, dân chủ, hòa bình và trung lập". Phía Mỹ nhấn mạnh, nước này "đề cao nhất mối quan hệ thân thiện với Nhật và sẽ tiếp tục phát triển các mối ràng buộc chặt chẽ đã có".
Trong quan niệm của Trung Quốc, Washington là tác nhân chính cho sự chuyển biến của Nhật. Theo thời gian, Mỹ đã giúp biến lực lượng tự phòng vệ của Nhật trở thành một quân đội quốc gia. Và nước này cũng hỗ trợ phía Nhật thâu tóm và sản xuất các hệ thống vũ khí công nghệ tiên tiến, một vài trong số chúng có khả năng tấn công, thông qua sự cộng tác. Ngay trong hiện tại, giới lãnh đạo Trung Quốc coi Mỹ là tác nhân chính cho sự trỗi dậy của Nhật và rằng nước này thiếu quyết tâm chính trị để kiềm chế một nước Nhật ngày càng quả quyết.
Cả phía Mỹ và Trung Quốc trong các thông cáo năm 1972 và 1978 đều nhất trí rằng, không bên nào theo đuổi quyền bá chủ và sự thống trị ảnh hưởng trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Đối với Trung Quốc, các thỏa thuận an ninh Mỹ - Nhật và quy mô chống đỡ quân sự của Mỹ không chỉ hé lộ việc Washington đang theo đuổi vị trí bá chủ trong khu vực, mà còn cho thấy họ đang thông đồng với Nhật (và với Philippines) để tạo ra tầm ảnh hưởng trong khu vực.
Trong cấu trúc khu vực tiềm năng, Mỹ và Nhật Bản sẽ nằm ở vị trí lãnh đạo trung tâm, và tầm ảnh hưởng bao gồm bán đảo Triều Tiên, khu vực eo biển Đài Loan cũng như các khu vực kéo dài đến eo biển Malacca. Về cơ bản, các lãnh đạo Trung Quốc tin rằng, giới chức Mỹ có thiết kế đầy tham vọng cho khu vực, bao gồm cả vai trò trọng yếu đối với Nhật Bản. Và vì những lí do hiển nhiên này, Mỹ đã cắt xén cam kết trong các thông cáo năm 1972 và 1978.
Ngược lại, phía Mỹ có thể cảm thấy rằng, giới lãnh đạo Trung Quốc đang nhắm loại bỏ Mỹ và thiết lập một cấu trúc khu vực với Trung Quốc ở trung tâm. Chẳng hạn như, Bắc Kinh đã theo đuổi các tính năng vũ khí tiên tiến, bao gồm tên lửa chống tàu và các phương tiện siêu thanh ít hoặc thiếu minh bạch cũng như không có đối thoại thể chế.
Từ quan điểm của Mỹ, các khả năng ngày càng tăng, ẩn giấu sau "bức tường chắn sáng khổng lồ" cho thấy, giới lãnh đạo Trung Quốc có thể là một mối đe dọa mới mẻ. Để đáp lại, giới chức Mỹ hiện có xu hướng chơi "quân cờ Nhật Bản," "quân cờ Philippines" và cả "quân cờ Hàn Quốc" để tạo ra các trung tâm quyền lực nhằm đối đầu và làm đối trọng với sự trỗi dậy của Trung Quốc.
Trong quá khứ, cách tiếp cận này đã dẫn đến các cuộc chiến tranh thế giới. Tuy nhiên, đối với hiện tại, nó đã khuyến khích giới lãnh đạo Trung Quốc thực thi các biện pháp phòng vệ và tấn công ngày càng chủ động hơn.
Quỳnh Anh(theo The Diplomat)
* Tác giả bài viết, tiến sĩ JM Norton, hiện giảng dạy về quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại của Mỹ tại Đại học Ngoại giao Trung Quốc (CFAU) ở Bắc Kinh, Trung Quốc.